Friday, 30 October 2015

Triết lý trong giáo dục

Triết lý tối cao của tất cả các mô hình giáo dục sớm đó là khơi dậy những tiềm năng vô tận của bộ não trẻ nhỏ và hình thành niềm say mê học hỏi, khám phá, đồng thời kích thích khả năng rèn luyện tư duy và thể chất đến suốt cuộc đời của các Bé.
baby2
Có phải bạn đã từng tự hỏi:
- Con mình nên bắt đầu học tiếng Anh từ khi mấy tuổi?
- Con mình có cần biết chữ khi bắt đầu học tiếng Anh?
- Làm thế nào để tạo được môi trường học tiếng Anh cho con ngay tại trường học và gia đình?
- Và làm thế nào để bố mẹ cùng học tiếng Anh với con, bất chấp bố mẹ có biết tiếng Anh hay không?
ccvan1
Nếu bắt đầu giáo dục cho con sau khi bé chào đời 3 ngày, …
… tức là bạn đã muộn mất 2 ngày
Làm thế nào để một phụ huynh không giỏi tiếng Anh vẫn có thể dạy con học tiếng anh tại nhà?
Một câu hỏi tưởng chừng như sẽ vô cùng khó có lời giản, nhưng hàng ngàn phụ huynh khác đã có “công thức” cho điều đó rồi. Và bây giờ tới lượt quý vị, hãy nhanh chóng nắm lấy thời cơ vàng này để dạy con mình sớm nhất ngay khi có thể.

Sau khóa học, bạn sẽ biết được:
- Bí mật về khả năng của trẻ khi bắt đầu học 1 ngôn ngữ.
- Cách thức tạo môi trường tiếng Anh chủ động cho các con của mình.
- Cách thức khiến trẻ yêu thích môn tiếng Anh và tự nguyện họcthay vì chống đối.
- Và trên hết … là quy trình các bước cùng dạy và học cùng con tại nhà – bước đột phá góp phần khiến con bạn giỏi tiếng Anh – bất chấp bạn có biết tiếng Anh hay không.
ccvan3

Thursday, 29 October 2015

Những cách thú vị dạy con tập đọc

Với 7 cách thú vị dưới đây, bạn sẽ khiến những đứa trẻ hứng thú và vui vẻ hơn với việc tập đọc.
1. Thẻ đọc

Thẻ đọc là vật dụng cơ bản để dạy con bạn tập đọc hiệu quả. Khi bạn áp dụng phương pháp này, bạn sẽ ngạc nhiên khi nhận ra trò chơi tuy đơn giản nhưng lại có hiệu quả cao đối với việc học đọc của trẻ như thế nào.

2. Biển báo hoặc biển quảng cáo

Các biển báo ngoài đường chính là “nguồn tài liệu” tập đọc thú vị dành cho các con. Dù cho một số tên sẽ rất khó cho những trẻ mới biết đọc, nhưng nó lại là một cách hiệu quả phân biệt các con chữ cho các con.

3. Các chương trình thiếu nhi

Các chương trình dành cho thiếu nhi, từ hoạt hình hay các gameshow ngoài tính giải trí, còn cung cấp cho các bé những bài học hữu ích luyện kỹ năng đọc và nhận biết các con chữ cần thiết. Bạn có thể tự mình lựa chọn một chương trình phù hợp nhất với con, đặc biệt với những trẻ coi việc xem tivi là cách giải trí chủ yếu.

4. Máy vi tính

Những sản phẩm phần mềm dạy học trên máy vi tính bạn có thể mua ngoài cửa hàng, hoặc tải miễn từ trên mạng về. Những phần mềm dạy tập đọc, tập viết rất đa dạng và phong phú sẽ giúp các bé luyện những phương pháp luyện tập khác nhau nhằm đạt được những kỹ năng cần thiết.

5. Thực đơn

Khi cả nhà đi ra ngoài ăn uống, bạn có thể tận dụng các thực đơn để giúp bé của mình học các từ mới. Thậm chí ở một số nhà hàng, bạn còn tạo cơ hội cho con tiếp xúc với ngoại ngữ nữa.

Với mỗi thực đơn, bạn cũng có thể bắt đầu tập cho con quan tâm đến một chế độ ăn uống lành mạnh, vì nhiều thực đơn ngày nay, đặc biệt là trong các nhà hàng thức ăn nhanh, được yêu cầu hiển thị lượng calo cho mỗi món ăn.

6. Truyện tranh

Đối với trẻ con, những người thích siêu anh hùng, thế giới thần tiên và những điều kỳ diệu, bạn có thể sử dụng truyện tranh để giúp các bé học đọc.

Truyện tranh hấp dẫn với nhiều màu sắc, không chỉ mang tính giải trí, giáo dục mà còn nhiều hơn thế nữa. Dường như bé nào cũng có đam mê lớn đối với truyện tranh.

7. Đọc cùng con

Đọc ít nhất một câu truyện cho con trước khi đi ngủ là một ý tưởng tuyệt vời để khuyến khích các bé thích đọc. Sách là một cánh cửa mở sang một thế giới mới cho cả bạn và con.

Sách truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng, và một khi bạn kết nối con cùng bước vào thế giới tưởng tượng của sách truyện, bạn đã có một đồng minh lớn. Con bạn sẽ muốn tìm hiểu thêm, chỉ để có thể khám phá các nhân vật sẽ làm những gì tiếp theo.

Wednesday, 28 October 2015

Làm thế nào để xây dựng bất kỳ 1 thói quen TỐT mà bạn muốn trong 30 ngày

Bạn đã biết bí mật để xây dựng thói quen tốt ở phần 1 của series “30 days to challenge”
Thử thực hiện 1 thói quen trong 30 ngày giống như dùng thử phần mềm. Kết thúc thách thức 30 ngày này, bạn sẽ quyết định tiếp tục thói quen hay không?

Làm 1 điều gì đó liên tục trong 30 ngày cũng không quá khó, dễ hơn nhiều so với việc nghĩ phải làm điều đó mãi mãi. Nhưng cụ thể và chi tiết thế nào để bạn có thể hoàn thành thử thách này và không lâm vào tình trạng hứng thú trong 1, 2 ngày đầu, tinh thần đi xuống, xịt ngay sau đó?
30-day-challenge-healthy-habits
Bạn cần làm theo 1 check-list cụ thể như sau để đảm bảo hoàn thành được thách thức 30 ngày
Big Why? Tại sao thói quen đó lại quan trọng với bạn?#1 – Tại sao, Tại sao, Tại sao …
Tại sao bạn lại mong muốn có được thói quen đó?
#2 – Mô tả chi tiết thói quen 
Viết mô tả chung về thói quen, từng bước một bạn sẽ làm những thứ gì để hoàn thành thói quen đó. Đừng bỏ qua những công cụ giúp bạn đi nhanh hơn, xa hơn.
#3 – Vượt chướng ngại vật
Khi bắt đầu 1 thói quen mới, chúng ta sẽ gặp rất nhiều lực cản, nhiều chướng ngại vật. Bạn phải xác định trước những thứ gì sẽ là rào cản cho bạn thực hiện thói quen mới
Viết xuống ngay khi bạn gặp phải những chướng ngại đó kèm thêm những thông tin hữu ích khác như:
  • Bạn đang ở đâu, vị trí nào? Ai sẽ làm cùng bạn?
  • Bạn đang làm gì? Bạn đang suy nghĩ điều gì?
  • Chướng ngại bạn sẽ gặp phải là gì? Bản chất vấn đề? Giải pháp dự kiến
Đây là những thông tin quan trong mà Bạn cần khám phá để biết tại sao bạn lại muốn có thói quen mới tốt như thế nào?
#4 – Kết quả
Để theo dõi kết quả của việc xây dựng thói quen tốt mới, bạn cần phải có đơn vị đo lường hàng ngày.
  • Hôm nay Bạn Có làm / Không
  • Số lượng (Bạn thực hiện được thói quen này bao nhiêu lần?)
  • Bạn đang làm vượt trên hay làm dưới mức giới hạn của bạn
  • Thời gian (Hàng ngày bạn dành bao nhiêu thời gian cho thói quen này)
Những thước đo hàng ngày như thế này là chìa khóa để tạo ra thói quen vĩnh viễn của bạn.
#5 – Quyết đinh
Giờ là lúc bạn phải ra quyết định: có nên giữ lại thói quen đó hay không sau 1 tháng trải nghiệm
  • Thói quen đó có giúp ích nhiều cho cuộc đời của BẠN không?
  • Bạn có thời gian cho thói quen này không?
  • Bạn có nên tiếp tục thói quen này không? Bạn nên loại trừ điều gì trong quá trình xây dựng thói quen này?
  • Bạn có cần thử tiếp thói quen này trong 30 ngày tới nữa không?
Sẽ có 3 thứ bạn lựa chọn sau đó là:
  1. Giữ thói quen đó lại
  2. Vì 1 số lý do, thói quen bạn đang xây dựng không tốt như bạn kỳ vong. Bạn sẽ ngừng, không làm nữa
  3. Thói quen bạn xây dựng không diễn ra như bạn kỳ vọng do có vấn đề trong quá trình thực hiện. Bạn sẽ chỉnh sửa lại và tiếp tục thực hiện lại trong 30 ngày tiếp theo

Sunday, 25 October 2015

4 chỉ số quan trọng cần biết – IQ, EQ, AQ và CQ

Với người Do Thái, công thức để thành công của họ là:
Success = 20% IQ + 80% (EQ + AQ)
IQ chắc các bạn cũng đã biết, còn EQ là gì? AQ nữa? Và còn một chỉ số nữa cũng rất quan trọng đó là CQ, nhưng với người Do Thái, CQ mặc định mỗi người Do Thái đều được rèn luyện từ nhỏ rồi, nên đương nhiên ai cũng sẽ có. Trong bài viết này, mình có tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau trên mạng, trình bày cơ bản ngắn gọn, dễ hiểu nhất về 4 chỉ số IQ, EQ, AQ và CQ để làm nền cho bài viết tiếp theo: làm thế nào để phát triển các chỉ số này cho trẻ.
Success-Starts-Here-Freeway-Style-Desert-Landscape
IQ (Intelligence Quotient) – chỉ số thông minh
EQ (motional Quotient) – chỉ số cảm xúcIQ là chỉ chỉ số nói lên năng lực trí tuệ và được dùng để định giá trị thông minh của con người. Nói đến IQ cao, người ta thường nghĩ đến sự thông minh và ngược lại. Người có chỉ số IQ cao thường có khả năng thao tác, xử lý và phân tích thông tin ở mức độ chuyên sâu hơn và tốc độ nhanh hơn so với những người khác.
EQ là khả năng nhận thức, hiểu và truyền đạt cảm xúc.
Chỉ số cảm xúc gồm 4 cấp độ:
  1. Nhận biết cảm xúc: Nhận biết cảm xúc của bản thân và cảm xúc của những người xung quanh
  2. Hiểu được cảm xúc: Hiểu và thấu cảm được các loại cảm xúc, đồng thời biết được nguyên nhân và hậu quả của các loại cảm xúc ấy
  3. Tạo ra cảm xúc: Có khả năng diễn tả và đáp lại cảm xúc của người khác. Thông qua đó, bản thân biết lắng nghe, thông cảm và chia sẻ với người khác
  4. Quản lý cảm xúc: Có khả năng tự quản lý cảm xúc của mình, cư xử hợp lý để dễ dàng hòa đồng với tập thể.
AQ (Adversity Quotient) – chỉ số vượt khó
AQ là chỉ số đo khả năng đối diện và xoay sở trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn.
Theo Paul Sloltz (người đầu tiên đưa ra khái niệm AQ), chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống:
  1. Đối diện khó khăn
  2. Xoay chuyển cục diện
  3. Vượt lên nghịch cảnh
  4. Tìm được lối ra
CQ (Creative Intelligence) – chỉ số sáng tạo
Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào, để thành công không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Sự sáng tạo đóng vai trò trung tâm  làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại và CQ là tiêu chí để đánh giá khả năng sáng tạo của mỗi con người.
Tại Việt Nam, hầu như trong giáo dục chỉ tập trung phát triển IQ mà không để ý đến các chỉ số còn lại. Theo như công thức đã đưa ra tại mở đầu của bài viết, thì IQ chỉ chiếm đến 20% của sự thành công, còn lại là các chỉ số khác. Do vậy, việc phát triển đầy đủ các chỉ số còn lại cho trẻ hết sức quan trọng và làm thế nào thế nào để có thể phát triển được các chỉ số này? Mình sẽ chia sẻ tại một bài viết khác.:)

Saturday, 24 October 2015

21 ngày để tạo một thói quen mới cho con

Để hình thành một thói quen mất bao lâu?
Khi bạn search trên google , bạn sẽ tìm thấy những con số như 21 và 28 ngày. Sự thực là không có bằng chứng chắc chắn cho những con số đó. Con số 21 ngày có thể đến từ 1 cuốn sách xuất bản năm 1960 bởi bác sỹ Maxwell Maltz. Ông để ý thấy rằng những người cụt chân/tay, trung bình cần khoảng 21 ngày để điều chỉnh với việc mất 1 chi và bác sỹ Maxwell cho rằng con người cần 21 ngày để điều chỉnh, thích nghi với 1 vài thay đổi quan trọng trong cuộc sống. Điều này có liên quan đến việc hình thành một thói quen mới???
21 ngày tạo một thói quen mới
21 ngày tạo một thói quen mới
Có 1 vài nghiên cứu về vấn đề này trong 1 bài viết đăng trên tờ European journal of social psychology. Phillippa Lally và các cộng sự của trường University college London đã tuyển 96 người có hứng thú với việc hình thành 1 thói quen mới, ví dụ như ăn 1 phần trái cây cùng bữa trưa hoặc tập chạy 15 phút mỗi ngày. Những người tham gia được hỏi hằng ngày về việc họ cảm thấy mức độ tự động hóa của hành vi như thế nào ?
Trung bình, hành vi tự động hóa đạt đến trạng thái bình ổn sau khoảng 66 ngày. Mặc dù mức trung bình để 1 hành vi trở thành tự động hóa là 66 ngày, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận sự khác nhau về thời gian trong việc hình thành những thói quen khác nhau, từ 18 ngày cho đến 254 ngày.
Ví dụ: thói quen uống 1 ly nước trở thành tự động hóa xảy ra rất nhanh, nhưng việc tập thể dục kiểu ( nằm xuống/ngồi dậy 50 cái ) trước bữa sáng thì đòi hỏi nhiều công sức hơn. Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy những điều sau :
  1. Những gì mà nghiên cứu tiết lộ, đó là khi chúng ta muốn phát triển 1 thói quen, ví dụ như ăn trái cây hằng ngày hoặc đi bộ 10 phút hằng ngày, nó có thể phải mất hơn 2 tháng lặp đi lặp lại hành động đó trước khi hành động đó trở thành 1 thói quen. Dù nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bỏ qua 1 ngày không thực hiện hành động thì nó cũng không làm tổn hại đến kết quả lâu dài, nhưng những gì lặp đi lặp lại thời gian đầu sẽ thúc đẩy mạnh mẽ việc tự động hóa của hành vi.Việc bạn bỏ qua 1 ngày ( không thực hiện hành vi đó ) sẽ không làm giảm cơ hội hình thành 1 thói quen.
  2. Một số loại thói quen có thể tốn nhiều thời gian hơn để tập.
Đó là với người lớn, vậy với trẻ dưới 6 tuổi thì sao?
Điều dễ nhận thấy, trẻ không có nhiều vấn đề phải chọn lọc và xử lý giống như người lớn. Trẻ có khả năng tiếp thu và tiếp nhận với mọi thứ xung quanh, vì tại thời điểm này não đã trong quá trình hoàn thiện đến 90% nhưng dữ liệu thì chưa có là bao.
Trẻ có khả năng học hỏi và tiếp thu rất nhanh, nhất là với các sự vật, hiện tượng được lặp đi lặp lại liên tục và hằng ngày. Và với 21 ngày là con số đủ để trẻ có một thói quen tốt mới hoặc thói quen xấu mới.
Vậy bạn sẽ hướng cho con những thói quen mới nào? Khi nào bạn sẽ bắt đầu? Mình mong nhận được phản hồi ở comment bên dưới từ các bạn, :)
Ps: bài viết có sử dụng lại một chia sẻ có trên internet cách đây 3 năm.

Friday, 23 October 2015

Bản chất giáo dục sớm

Nhưng có rất nhiều ý kiến trái chiều liên quan tới việc dạy con sớm. Điển hình như:
Đúng là trẻ con không nên bị nhồi nhét quá sớm. Mình cực lực phản đối flash card và dot card. Ngày nào cũng bị nhồi nhét cái mớ này sẽ biết những đứa trẻ con nhạy cảm thành robot mà thôi.
Hay
Lại chạy theo xu hướng xã hội, muốn con thành thiên tài nên ép nó học đủ thứ, rồi khổ con trẻ ra, chả cho nó 1 tuổi thơ được vui chơi thoải mái như ngày xưa gì cả.
Rồi bạn đi tìm hiểu, thấy luồng ý kiến nào cũng đều có lý cả, biết nghe theo ý kiến nào đây?Người ủng hộ, người phản đối, nhiều nhất là thế hệ ông bà, với kinh nghiệm dạy con bao năm qua, hay với những người trẻ đang băn khoăn giữa 2 luồng tư tưởng
Tớ cũng như bạn, cũng băn khoăn khi đi tìm câu trả lời trên, và thật tuyệt khi tớ đã tìm ra câu trả lời (theo góc nhìn, và quan điểm của tớ). Có 2 vấn đề ta cần giải quyết:
  • Giáo dục sớm là dạy con trẻ từ nhỏ >> Liên quan đến khả năng học tập của con >> Liên quan tới não bộ của con >> Tìm hiểu não bộ và cơ chế của nó sẽ giúp mình có câu trả lời tốt nhất
  • Bỏ qua 2 luồng nghĩ trái chiếu của xã hội về giáo dục sớm, mình cần tự đánh giá: “Điều bạn làm có đáng hay không?”

Quy luật phát triển của não bộ trẻ em

# 1 Quy luật giảm dần não bộ
quy luat nao bo
  • Khi trẻ trong giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ, trọng lượng não bộ đã phát triển được 25%
  • 6 tháng tuổi: trọng lượng não bộ phát triển 50%
  • 1 tuổi: não bộ phát triển được 75%
  • 2 tuổi: não bộ phát triển được 80%
  • 6 tuổi trở đi: não bộ  phát triển gần bằng 100% trọng lượng não bộ người lớn
Vậy bạn sẽ cần quan tâm tới giai đoạn nào?
#2 Quy luật xén tỉa não bộ
Khi trẻ sơ sinh ra đời, não bộ đã có tới 100 tỷ tế bào thần kinh, trong đó vỏ đại não chiếm 14 tỉ tế bào. Kích thước của chúng vẫn còn nhỏ, các sợi nhánh và các trục thần kinh chưa hình thành nhiều, chưa có thông tin truyền qua lại giữa các no-ron (tế bào thần kinh). Và trong số các tế bào đó, cái nào phát triển, cái nào mất dần đi sẽ là yếu tố môi trường quyết định. Bản thân trẻ mới sinh ra không nhìn thấy gì cũng không nghe thấy gì, việc thay đổi môi trường khiến chúng phải đón nhận ánh sáng, nghe các âm thanh, các tế bào khu vực thính giác và thị giác phát triển. Đây là quá trình hình thành cơ bản của các liên kết về cảm giác trong não. Tương tự như vậy, khi được tiếp xúc càng nhiều sự vật hiện tượng từ môi trường xung quanh, các tế bào não càng được được kích thích hoạt động, chúng bắt đầu liên hệ với nhau, các sợi thần kinh nhánh bắt đầu phát triển. Dần dần chúng liên thông với nhau hình thành các con đường truyền tải thông tin, vì vậy hoạt động tâm sinh lý cũng ngày càng trở nên phong phú đa dạng hơn.
Với “Quy luật xén tỉa” của bộ não, các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng não người hoạt động trên nguyên tắc “sử dụng nó hay mất nó”; não chỉ giữ lại những kết nối và các con đường thường xuyên được kích hoạt; các kết nối khác không luôn sử dụng sẽ bị xén tỉa, để não hoạt động hiệu quả hơn.
Với 2 quy luật trên, mình nhận ra rằng
Giáo dục sớm không phải là dạy con mà là kích hoạt tiềm năng tiềm tàng trong con
Giáo dục càng muộn thì tiềm năng có được của con được phát huy càng ítVà với bạn, việc kích hoạt tiềm năng có sẵn trong con người con bạn có ĐÁNG làm hay không? Nếu ĐÁNG thì làm thôi, đừng băn khoăn về Đúng – Sai, Phải – Trái, Nên – Không nên, Dư luận thế này thế kia.

Wednesday, 21 October 2015

5 bí mật giúp bé tuân theo kỷ luật

Cha mẹ thường nghĩ Kỷ luật trẻ có nghĩa là trừng phạt bé, nhưng kỷ luật đúng nghĩa là dạy dỗ bé. Bạn có thể tham khảo các bí mật dưới đây để dạy bé có cách cư xử tốt.

1. Đánh lạc hướng

Không nên quát mắng khi bé làm bạn không hài lòng, bởi âm lượng của bạn sẽ khiến bé cảm thấy sợ hãi và tò mò. Thay vì vậy, bạn cần bình tĩnh và nhanh chóng hướng bé sang hoạt động khác. Ví dụ, nếu bé đang trèo lên thành sofa, bạn nhẹ nhàng bế bé xuống và chuyển hướng bé sang một hoạt động khác mà bé thích như đọc sách, chơi trò chơi.
Chuyển hướng chú ý của bé không chỉ tách bé khỏi hoạt động bạn không mong muốn mà còn dạy bé rằng cùng thời điểm nhưng có một số việc bé không được phép làm, ví dụ như leo trèo lên đồ đạc.

2. Nhất quán

Bạn có thể cho rằng chẳng có hại gì khi nhượng bộ một đứa trẻ đang gào khóc đòi ăn 1 cái bánh quy nhỏ trước bữa ăn. Nhưng thực tế, bé sẽ tiếp tục gào khóc và đòi ăn bánh quy trước bữa ăn vào lần kế tiếp. Bạn nên đặt ra các giới hạn và lặp đi lặp lại các giới hạn đó.
Bạn và chồng/vợ của bạn cũng cần thống nhất các nguyên tắc trong gia đình. Mỗi người lớn có cách cư xử khác nhau cho một hoạt động của bé sẽ khiến bé bối rối và thất vọng.
3. Tích cực
Nếu bạn nói Không với bé ở mọi lúc, mọi nơi, bé sẽ nổi giận, thậm chí bé nói Không khi bé không muốn làm một việc gì đó. Bạn nên sử dụng từ “Không” trong những tình huống nguy hiểm để đảm bảo sự an toàn cho bé. Nếu bé đang có ý định mở cửa lò vi sóng, bạn cần nói “Không!” một cách dứt khoát.
Nhưng nếu bé làm việc gì đó không nguy hiểm, bạn có thể thay thế từ Không bằng cách nói tích cực hơn. Ví dụ, thay vì nói “Không! Con không được đi dép này ra ngoài sân chơi!” thì bạn có thể nói “Con có thể để đôi dép này ở nhà, con có thể ra ngoài sân chơi bằng đôi dép kia nhé!”

4. Chỉ cho bé cách làm

Bé học hỏi qua việc quan sát bạn làm nhiều hơn qua việc bạn nói. Nếu bé quá thô bạo trong khi chơi với đứa trẻ khác, bạn có thể hướng dẫn bé cách mà bạn mong đợi bằng cách làm mẫu: “Nào, con có thể lại đây ôm bạn một cách nhẹ nhàng”, sau đó, làm mẫu và hướng dẫn bé cách ôm bạn nhẹ nhàng. Hoặc, nếu bé không chịu đánh răng trước giờ đi ngủ, bạn có thể cùng bé đánh răng mỗi tối.

5. Khen ngợi hành vi tốt

Đôi khi, bé phá phách là bởi vì bé thiếu các kỹ năng giao tiếp, và phá phách là cách để gây sự chú ý. Đó chính là lý do mà bạn cần luôn luôn để cho bé biết rằng bạn hài lòng khi làm một việc gì đó theo như bạn mong đợi. Bằng cách đó, bạn có thể cho bé biết rằng khi bé cư xử đúng mực, bé cũng nhận được sự chú ý của bạn.

Tuesday, 13 October 2015

Vốn từ vựng của bé sẽ phong phú hơn nếu sớm được dạy ngôn ngữ ký hiệu.
Sớm tiếp xúc với ngôn ngữ ký hiệu có ý nghĩa và tác động rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của bé. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, những bé được dạy ngôn ngữ ký hiệu ngay từ khi biết nhận thức, sau này, sẽ có vốn từ vựng phong phú và khả năng biểu cảm đa dạng hơn những bé không được học ngôn ngữ ký hiệu
Hơn nữa, dạy bé ngôn ngữ ký hiệu giúp cha mẹ dễ nhận biết nhu cầu ăn, ngủ… hay dấu hiệu mệt mỏi của bé. Dưới đây là một số ký hiệu cha mẹ nên dạy bé trước khi bé biết nói.
Lưu ý: Bạn sẽ cần lặp đi lặp lại các ký hiệu kèm lời nói nhiều lần để bé quen dần với giọng điệu và ghi nhớ được hành động. Do đó, khi dạy bé, bạn đừng sốt ruột nhé vì 'dục tốc bất đạt' mà.
1. Gọi mẹ
Bạn mong chờ từng ngày con cất tiếng gọi 'Mẹ'? Để tiếng 'Mẹ' thiêng liêng sớm phát ra từ miệng bé, bạn có thể 'huấn luyện' bé ngay từ thuở lọt lòng theo cách sau.
Để dạy bé gọi mẹ, bàn tay phải của bạn duỗi thẳng, mở rộng và đặt gần sát mang tai sao cho ngón tay trỏ gần sát với cằm. Sau đó, gọi tiếng ‘Mẹ’ rõ ràng và dứt khoát.
 Ký hiệu nên dạy bé trước khi tập nói - 1
Dạy bé gọi mẹ, bàn tay phải mở rộng và duỗi thẳng...
2. Gọi ba
Tiếng 'Ba, ba' hay 'Bà, bà'... gần như là tiếng đầu tiên bé bập bẹ khi bắt đầu tập nói. Để sớm dạy bé gọi ba, bàn tay phải hoặc trái của mẹ duỗi thẳng, mở rộng sao cho ngón trỏ đặt gần sát chân mày bên phải/ trái. Sau đó, gọi tiếng ‘Ba’ với giọng điệu vui tươi và rõ ràng...
 Ký hiệu nên dạy bé trước khi tập nói - 2
Mẹ hãy ra hiệu và dạy bé gọi 'Ba' với giọng điệu vui tươi nhé!
3. Mẹ yêu con
Có hai biến thể của cách nói “Mẹ yêu con” và bạn có thể sử dụng ký hiệu rút gọn bằng một bàn tay. Ký hiệu rút gọn này là bạn chỉ cần giơ thẳng ngón tay cái, ngón trỏ và ngón út, trong khi ngón đeo nhẫn và ngón giữa cụp xuống. Hướng lòng bàn tay về phía bé và di chuyển bàn tay từ từ trong khi nói to, mạch lạc “Mẹ yêu con”.
 Ký hiệu nên dạy bé trước khi tập nói - 3
Không khó để mẹ nói cho bé biết 'Mẹ yêu con'!
4. Ăn
Lúc nào bé đói, bé cần ăn là một trong những dấu hiệu đầu tiên mẹ cần biết khi nuôi con. Khi bé chưa nói được, mẹ có thể dạy bé 'đòi ăn' bằng cách ra hiệu như sau:
Khum bốn ngón tay phải (ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út) vào gần sát ngón cái, đặt cách ngang miệng. Sau đó, tiến dần các ngón tay về phía miệng và nói 'Măm măm' hoặc 'Ăn'...
 Ký hiệu nên dạy bé trước khi tập nói - 4
Bé sẽ nhanh chóng bắt chước hành động của mẹ và nói cho mẹ biết khi nào bé đói.
5. Buồn
Trước khi bé có thể giao tiếp bằng lời nói, bé đã có thể nói cho mẹ biết bé bí bách, khó chịu hay buồn chán thế nào. Đây là một ký hiệu đơn giản, bạn có thể dạy bé bằng cách mỗi khi bạn buồn chán hãy làm mặt bí xị, ủ rũ. Sau đó, giơ 2 tay lên gần sát đỉnh đầu và duỗi thẳng các ngón tay rồi dần kéo tay từ đỉnh đầu xuống đến cằm. Đồng thời nói “Mẹ buồn!”. Đôi ba lần như thế, bé sẽ quen với dấu hiệu của mẹ và bắt chước đấy!
 Ký hiệu nên dạy bé trước khi tập nói - 5
Muốn dạy bé nói lên cảm giác bí bách, khó chịu... mẹ hãy làm mặt ủ rủ nhé!

Monday, 12 October 2015

Phương pháp chơi mà học

Phương pháp CHƠI mà HỌC dựa trên nguyên lí gốc của phương pháp tiếp cận ngôn ngữ một cách tự nhiên và vô cùng hiệu quả – Natural Approach – được giáo sư Stephen Krashen và Mr Tracy D.Terrell khám phá ra vào cuối thập niên 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20.
96616635
Natural Approach là một công trình nghiên cứu tuyệt vời về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, rút ngắn quá trình hình thành ngôn ngữ tự nhiên của con người, loại bỏ hết tất cả những cái sai làm mất nhiều thời gian và chỉ thực hiện một chuỗi quá trình đúng, giúp một người từ chỗ không diễn đạt được ý mình đến khả năng diễn đạt lưu loát.
Chúng ta hãy xem cách một người Việt từ lúc sinh ra cho đến khi có thể giao tiếp tạm được (cho đến năm học lớp 1 chẳng hạn). Hệ thống ngôn ngữ được nạp vào đầu một cách tự nhiên qua nhiều năm tháng. Cuối cùng, hệ thống câu từ cơ bản đã được hình thành và em bé này được cho là nói tiếng Việt “lưu loát” như nhiều nhà phân tích ngôn ngữ kết luận. Nhưng thật sự thì cho đến khi học hết đại học một sinh viên còn cần phải học kỹ năng giao tiếp thì mới nói được tiếng Việt lưu loát, diễn đạt được ý của mình. Bởi, mặc dù là người Việt, tiếng Việt một “bụng” nhưng mỗi khi cần phát biểu, trả lời một câu hỏi, hay diễn đạt một ý tưởng thì luôn ấp úng, nói không thành câu và không bao giờ diễn đạt hết những suy nghĩ của mình. Chính vì thế, sinh viên mới ra trường hoặc chỉ có 2-3 năm kinh nghiệm sau khi ra trường hiếm khi được giao cho những việc quản lý hay lãnh đạo nhóm do khả năng dẫn dắt và truyền đạt hạn chế. Vì vậy, quá trình hơn kém 25 năm học và rèn luyện của một người sử dụng chính tiếng mẹ đẻ của mình cũng được cho là bị “câm” trong giao tiếp.
Giải thích cho tình trạng này:
Chúng ta mắc sai lầm trong khi học ngôn ngữ là do từ nhỏ người ta chỉ “dạy ngôn ngữ” mà không “dạy giao tiếp”. Để rồi ta phải tự tìm tòi, mày mò, tìm cách đối phó trong lúc chúng ta cần giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất. Cách mọi người thường sử dụng đầu tiên là suy nghĩ nhanh, đặt câu và thực tập nhanh trong đầu nhiều lần cho thuộc lòng, sau đó đứng lên nói như con vẹt. Khi nói hết rồi có khi ai hỏi thêm cũng chưa chắc biết cách trả lời vì những câu từ đặt ra để nói cho suông chứ không có sự liên kết nào đến kiến thức và kinh nghiệm đang có. Vì vậy, hầu hết đều rơi vào tình trạng nói như một con vẹt, nói ra mà không hiểu mình đang nói gì
Như vậy, cho đến giai đoạn một đứa trẻ có thể giao tiếp tạm được, ngôn ngữ cũng chỉ hình thành dưới dạng “tiềm ẩn” mà thôi – nghĩa là nghe thì hiểu, nhưng diễn đạt lưu loát thì chưa được.
Tuy nhiên, không một trẻ em Việt nào khi học tiếng Việt lại cảm thấy bị áp lực cả, bởi vì quá trình “học” đó đi vào tiềm thức trẻ một cách rất tự nhiên như ta vẫn thường “thở” hàng ngày. Vì vậy, sẽ thật tuyệt vời áp dụng cách thức này khi học một ngôn ngữ thứ 2, hay bất kỳ một ngôn ngữ nào ngoài tiếng Việt chúng ta cần tạo ra môi trường để trẻ được “sống” trong thứ ngôn ngữ đó nhiều nhất có thể. Cách thức này sẽ giúp quá trình tiếp nhận ngôn ngữ “ngoại lai” đó diễn ra một cách dễ dàng và khiến trẻ luôn hứng thú, phấn khích.

Sunday, 11 October 2015

Trẻ em nên học một ngôn ngữ mới thế nào

Làm sao để trẻ học một ngôn ngữ mới hay bất cứ một điều gì mới là một câu hỏi lớn. Chúng ta thực chất chưa từng hiểu một cách trọn vẹn quá trình học một điều mới diễn ra trong trí não của con người. Việc tiếp thu một ngôn ngữ của trẻ nhỏ cũng vậy.
28
Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra kết luận về phương pháp học như thế nào cho hiệu quả. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của chuyên gia về giáo dục trẻ em Mitchell Willcox – giảng viên tiếng Anh tại Language Link Việt Nam. Ông cho biết, thực tế, dựa vào những phương pháp học khác nhau của trẻ, chúng ta có thể nhận thấy đâu là cách tốt nhất.
Từ một thí nghiệm giáo dục
Các nhà tâm lý học thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (Hoa Kỳ) vừa đưa ra một bản nghiên cứu dựa trên một thí nghiệm đơn giản và chứa nhiều thông tin (những chỉ dẫn hạn chế khả năng tìm tòi và khám phá tự nhiên). Họ đã đưa cho hai nhóm trẻ em riêng biệt một thứ đồ chơi làm từ rất nhiều những chiếc ống khác nhau. Mỗi ống có một đặc điểm riêng. Có chiếc kêu cọt kẹt, có chiếc có gắn một tấm gương bên trong…
Cả 2 nhóm trẻ đều được một người lớn hướng dẫn cách chơi đồ chơi đó. Ở nhóm thứ nhất, người chỉ dẫn hướng dẫn trẻ cách chơi trực tiếp và không đề cập hết tất cả những chức năng của những chiếc ống. Nhóm thứ hai được một người lớn phát đồ chơi cho một cách hào hứng. Thay vì hướng dẫn trẻ cách chơi, người này tạo cảm hứng cho trẻ thấy khám phá thứ đồ chơi này thật thú vị. Người hướng dẫn này kéo 1 chiếc ống và tỏ ra ngạc nhiên khi chiếc ống phát ra tiếng cọt kẹt và lặp đi lặp lại hành động đó. Và cô ấy tiếp tục nói chuyện với các em trong khi không ngừng khám phá những chiếc ống. Giống như nhóm 1, giáo viên không đề cập tới tất cả những chức năng.
Sau đó, họ quan sát 2 nhóm trẻ chơi thứ đồ chơi này. Theo những gì các nhà khoa học nhìn thấy, nhóm trẻ thứ nhất không chơi lâu và cũng không khám phá được thêm nhiều chức năng của đồ chơi mà chỉ lặp lại những gì người chỉ dẫn đã làm mẫu (kéo cho ống kêu) rồi dừng lại. Tuy nhiên, nhóm thứ 2 chơi đồ chơi này lâu hơn và khám phá được thêm rất nhiều chức năng của nó. Một nhóm các nhà khoa học khác của Trường Đại học California, Berkeley cũng tiến hành một thí nghiệm tương tự nhưng phức tạp hơn một chút và đều đi đến cùng một kết luận.
29
Phương pháp những người lớn tương tác với mỗi nhóm trẻ đại diện cho những ý tưởng giáo dục khác nhau. Nhóm đầu tiên – với người chỉ dẫn cách chơi đồ chơi – là ví dụ của phương pháp hướng dẫn trực tiếp. Đây là phương pháp giảng dạy truyền thống, các giáo viên sẽ hướng dẫn tất cả mọi thứ. Nhóm thứ hai là ví dụ cho phương pháp học qua tham gia các trò chơi tương tác. Thí nghiệm đã cho thấy, phương pháp hướng dẫn trực tiếp đã hạn chế sự thích thú của trẻ trước đồ chơi cũng như khả năng tự khám phá và tìm hiểu của trẻ. Các em chỉ bắt chước người lớn và dừng lại ở đó. Nhóm thứ 2 cho thấy trẻ có thể tự học thông qua việc tự tìm tòi và khám phá. Thực tế, trong trường hợp này, trẻ học được nhiều hơn nhờ khám phá của chính mình.
Áp dụng trong dạy học ngôn ngữ thứ hai
Chúng ta đều học thứ ngôn ngữ đầu tiên khi chúng ta chưa biết đọc, và đó là ngôn ngữ mà ta thành thạo 100%. Con người sinh ra với bản năng tự nhiên trong học ngôn ngữ và nhu cầu giao tiếp. Đầu tiên, chúng ta chỉ biết khóc nhưng cho đến khi lên bốn, chúng ta lại có thể giao tiếp với gia đình và bạn bè như một điều kỳ diệu. Đó là một sự thay đổi đáng kinh ngạc từ việc không biết một ngôn ngữ nào trở thành thuần thục một ngôn ngữ khi 4 tuổi. Và bước tiến này được thấy ở tất cả chúng ta và ở mỗi đứa trẻ ta vẫn thấy thường ngày.
Quan sát những đứa trẻ trong một thời gian ngắn, chúng ta có thể thấy ba điều về cách các em học ngôn ngữ đầu tiên. Thứ nhất: trẻ không học ngôn ngữ đầu tiên tại trường vì vốn ở độ tuổi đó các em chưa đi học. Thứ hai: trẻ học được rất nhiều khi nghe người lớn nói chuyện dù không được học một bài học nào về các cấu trúc ngữ pháp. Thứ ba: trẻ khám phá ngôn ngữ đó qua việc trò chuyện với người lớn và mắc các lỗi sai trong ngôn ngữ hay qua chơi đùa và trò chuyện với những bạn cùng tuổi. Nhớ lại 2 nhóm trẻ trong thí nghiệm về đồ chơi. Một nhóm được hướng dẫn trực tiếp, trong khi nhóm thứ 2 được khơi gợi sự thích thú và khuyến khích tự khám phá. Kết quả là nhóm 2 đã học được nhiều hơn.
30
Ngôn ngữ là một dạng thức phức tạp hơn nhiều so với thứ đồ chơi đưa cho 2 nhóm trẻ đó. Như đã thấy, trẻ em có một khả năng đặc biệt trong học ngôn ngữ qua tự khám phá và nhận thức chức năng của nó. Giáo viên ngoại ngữ khi dạy một ngôn ngữ mới cho các em nên tận dụng khả năng đặc biệt này. Trẻ em thích vui chơi và thử khám phá bởi đó là cách học tốt nhất cho trẻ. Khi các em học ngôn ngữ thứ hai trên lớp, giáo viên phải hiểu sâu sắc cấu trúc của chương trình bao gồm mục tiêu của việc học từ vựng và ngữ pháp cơ bản, nhưng chương trình học cần được xây dựng dựa theo sở thích của các em, và cho các em được tự do nghe, thử khám phá và vui đùa với ngôn ngữ đó. Mặt khác, phương pháp hướng dẫn trực tiếp sẽ lấy đi những khả năng tuyệt vời nhất và quan trọng nhất trong việc tiếp thu của các em: Tự khám phá và thử nghiệm. Với phương pháp hướng dẫn trực tiếp trong dạy ngữ pháp cho trẻ em, cho các em làm bài tập và học cho các bài thi, sử dụng sách giáo khoa, học thuộc lòng từ vựng đều là những phương pháp phản tác dụng.
Như thí nghiệm đồ chơi nói trên, những phương pháp này có thể kìm hãm khả năng khám phá và tác động tiêu cực đến khả năng tiếp thu của trẻ.
Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có tác dụng với trẻ dưới 7 tuổi. Vì một lý do nào đó, trí não con người bắt đầu thay đổi trước tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành, mất đi khả năng dễ dàng tiếp thu một ngôn ngữ một cách tự nhiên. Và để học một ngôn ngữ mới ở độ tuổi này trở đi, trẻ cần được người lớn hướng dẫn trực tiếp.
Câu chuyện Vua Khủng long
Tôi có dạy một lớp học tiếng Anh dành cho trẻ. Lớp tôi có một cậu bé 6 tuổi mỗi ngày bước vào lớp đều nói với tôi: “Em là vua khủng long! Whoaaaaa!!!”. Và tôi trả lời: “Vậy ngài có thể làm gì thưa vua Khủng long?” Cậu bé sẽ kể cho tôi những sức mạnh đặc biệt của mình. Có thể nói cậu bé này có những kỹ năng xuất sắc nhất trong lớp. Tôi nghĩ điều này phần lớn nhờ có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tại nhà. Tuy nhiên, việc cậu bé luôn chủ động sẵn sàng khám phá và vui đùa bằng tiếng Anh với tôi khiến tôi tin rằng cậu bé sẽ tiếp tục phát triển năng khiếu tiếng Anh xuất sắc nhất. Và tôi cũng tin cậu bé đạt được sự trôi chảy trong tiếng Anh sớm hơn các bạn không chủ động vui đùa bằng tiếng Anh trong lớp. Nói cách khác, với cậu bé này, tiếng Anh như một thứ đồ chơi để khám phá và vui đùa. Rõ ràng, cậu bé đã học rất nhanh.
Nguồn: tham khảo interne